Sully Prudhomme, người đầu tiên được trao Giải Nobel Văn học

0
650

Sully Prudhomme (16/3/1839 – 7/9/1907) là tác giả đầu tiên được trao Giải Nobel Văn học (1901) vì những thành tựu văn chương xuất sắc, chủ nghĩa lí tưởng cao cả, nghệ thuật hoàn thiện và sự kết hợp độc đáo tình cảm và trí tuệ. Những lí tưởng nhân đạo trong thơ ông đã đưa thơ thời bấy giờ thoát khỏi bóng tối của chủ nghĩa bi quan.

Sully Prudhomme
Sully Prudhomme (16/3/1839 – 7/9/1907). Ảnh: Wikipedia

Một cuộc đời nghèo đói, bi thương

Sully Prudhomme, tên đầy đủ là René Armand Francois Prudhomme, là con của một thương nhân. Năm ông lên hai tuổi, người bố qua đời; hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên ông cùng mẹ và chị gái chuyển đến sống với người chú ruột.

Thuở bé ông học giỏi toán; sau tốt nghiệp trường trung học Bonaparte, ông dự định vào Đại học Bách khoa để trở thành kỹ sư, nhưng bởi mắc bệnh nặng về mắt nên phải từ bỏ ý định, chuyển sang học luật. Thời kỳ này, cuộc khủng hoảng tôn giáo cùng  lúc với cuộc tình tuyệt vọng đã làm tâm hồn ông bị tổn thương sâu sắc, và ông đã sống độc thân cho đến cuối đời. Những khó khăn về kinh tế không ngừng theo đuổi cuộc đời ông, từ năm 1860, ông đã phải tự đi làm nhiều nghề kiếm sống, buổi tối về nghiên cứu triết học và làm thơ. Tập thơ đầu tay Tứ tuyệt và các bài thơ(1) xuất bản năm 1865 dưới bút danh Sully Prudhomme (lấy theo tên Sully của bố ông) được đánh giá cao; sau đó ông gia nhập nhóm “Thi Sơn” (Parnasse – tiếng Pháp), gặp gỡ nhiều thi sĩ nổi tiếng đương thời và cho ra mắt các tập thơ về đề tài tình yêu (nội dung nói về việc bị một cô gái từ chối, nhà thơ suốt đời sống độc thân) và về sự mâu thuẫn giữa khoa học và tôn giáo.

Năm 1870, chiến tranh Pháp – Phổ nổ ra, ông tình nguyện gia nhập quân đội. Những túng thiếu, vất vả trong thời kỳ quân Phổ phong tỏa Paris khiến sức khỏe đã yếu của ông càng thêm trầm trọng, ông bị liệt và phải cắt hai chân sau khi cuộc phong tỏa chấm dứt. Cùng thời gian đó, sau khi phải chịu một lúc ba cái tang mẹ, chú và cô ruột, ông đã dành toàn bộ tài sản được thừa kế cho họat động văn chương. Năm 1870, S. Prudhomme xuất bản tập thơ ái quốc Ấn tượng chiến tranh. Những khuynh hướng mới trong văn học đã đưa ông đến chỗ kết hợp chặt chẽ thơ ca với khoa học và triết học; năm 1888 ông xuất bản trường ca Hạnh phúc, gồm 4000 câu thơ, khẳng định hạnh phúc có thể đạt được nhờ sự ham học hỏi, nhờ khoa học, nhờ lòng thiện và sự hi sinh. Ông cổ vũ thơ truyền thống, phản đối thơ tự do, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa suy đồi (Di chúc thơ, 1900).  Năm 1881, nhà thơ được bầu vào Viện Hàn Lâm Pháp. Năm 1901, S. Prudhomme là người đầu tiên trên thế giới được trao Giải Nobel Văn học, nhưng do bị bệnh nặng ông đã không thể đến Thụy Điển để nhận giải. Ông đã dùng tiền thưởng để lập Quỹ giải thưởng thơ ca để khích lệ các nhà thơ trẻ.

Những năm cuối đời ông tiếp tục sáng tác, viết khảo luận về tôn giáo, tâm lí. Nhà thơ mất tại nhà riêng ở ngoại ô Paris năm 1907.

Đương thời S. Prudhomme là nhà thơ rất có tên tuổi và được kính trọng, nhưng ngày nay ông ít được biết đến, thậm chí ngay cả ở trên dất nước ông. Ở Việt Nam, tuy thơ của ông chưa được dịch nhiều nhưng có điều đặc biệt là đã để lại dấu ấn trong những bài thơ nổi tiếng của các tác giả Thơ Mới (như Chiếc bình vỡ đối với Vết thương lòng của Lan Sơn, Chiều dài bến cảng đối với Những ngày nghỉ học của Tế Hanh).

Các tác phẩm của Sully Prudhomme

Tứ tuyệt và các bài thơ (Stances et Poèmes, 1865), thơ [Stanzas and Poems].

– Thử thách (Les Épreuves, 1866), thơ.

– Những phác thảo về Italia (Croquis Italiens, 1866-1868), thơ [Italian Notebook].

– Nỗi cô đơn (Les Solitudes, 1869), thơ.

– Ấn tượng chiến tranh (Impressions de la Guerre, 1870), thơ [Impressions of War].

– Nước Pháp (La France, 1874), thơ.

– Định mệnh (Les Destins, 1872), thơ [Destinies].

– Loài hoa nổi loạn (La Révolte des Fleurs), thơ [Revolt of the Flowers].

Lòng dịu dàng hoài phí (Les Vaines Tendresses, 1875), thơ [Vain Endearments].

 – Công lí (La Justice, 1878), thơ.

Hạnh phúc (Le Bonheur, 1888), trường ca [Happiness].

– Di chúc thơ (Le Testament Poétique, 1900), tiểu luận.

– Tôn giáo đích thực theo Pascal (La Vraie Religion selon Pascal, 1905), khảo luận [Pascal on True Religion].

– Vấn đề mục đích cuối cùng (Le Problème des Causes Finale, 1906), khảo luận.

– Tâm lí của sự tự do lựa chọn (Psychologie du Libre Arbitre, 1906), khảo luận.

– Phiêu bạt (Epaves, xuất bản năm 1908), thơ [Flotsam].

* Tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt:

– Dưới trần gian (thơ), Quốc Vượng dịch, in trong Những áng thơ hay, Nxb Văn học – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 1999.

Những đôi mắt (thơ), Nguyễn Công Chương dịch, in trong Những áng thơ hay, Nxb Văn học – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2000.

Gửi những nhà thơ tương lai, Ở cõi tục này (thơ), Bằng Việt dịch, in trong Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX, Nxb Văn học 2005.

– Chiếc bình vỡ (thơ), Phạm Vũ Toản dịch, in trong Hương sắc bốn phương, Nxb Hội Nhà văn, 2003.

– Bình vỡ, Những con mắt (thơ), Phạm Nguyên Phẩm dịch, in trong 100 bài thơ Pháp từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, 1998.

– Các bài thơ Gửi những nhà thơ tương lai, Ở cõi tục này, Bằng Việt dịch;  Giống nhau, Giọt sương, Hora Prima, Nguyễn Viết Thắng dịch; Những ánh mắt, Vương Ngọc Long phỏng dịch; Chiếc bình vỡ, Phạm Vũ Toản dịch, in trong Các nhà thơ Giải Nobel, Nxb Văn học – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2007.

– Các bài thơ Chưa bao giờ nghe tên, Giọt sương, Giống nhau, Giờ thức tỉnh, Sự cứu rỗi trong nghệ thuật, Nguyễn Viết Thắng dịch; Mắt, Hoài Anh dịch; Chiếc bình vỡ, Cao Quảng Văn dịch; Dọc theo bến cảng, Nguyễn Đức Nhu dịch, Chiều dài bến cảng, Ngô Văn Phú dịch, in trên các website và báo, tạp chí.

Lời tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển(2)

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển – Wikipedia tiếng Việt

Khi Alfred Nobel quyết định thực hiện món quà tặng khổng lồ của mình, món quà hiển nhiên được rất nhiều người quan tâm, sự nghiệp của cả cuộc đời khiến ông đề cao việc nghiên cứu tự nhiên và muốn trao giải thưởng cho những phát kiến thuộc một số lĩnh vực khoa học tự nhiên. Cũng vậy, khát vọng thế giới chủ nghĩa đã biến ông trở thành người biện hộ cho hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Ông cũng muốn dành một giải thưởng cho văn học, nhưng đặt nó sau khoa học – lĩnh vực có sức hút mạnh nhất đối với ông.

Văn học phải biết ơn ông, bởi những nhà hoạt động văn chương cũng trở thành đối tượng được ông quan tâm đến. Người ta có thể chỉ rõ rằng văn học đứng sau cùng trong danh sách giải thưởng của Viện Hàn lâm Thụy Điển là bởi một lí do rất chính đáng: văn học – bông hoa cao quý nhất của nền văn minh, có lẽ là thứ đẹp nhất nhưng cũng mỏng manh nhất, từ nay sẽ nở rộ trên mảnh đất của hiện thực. Trong bất cứ lĩnh vực nào, với những bông hoa tặng của thời hiện đại này, người đoạt giải cũng nhận được một giá trị vật chất vượt xa những bông violet vàng của thời xưa.

Giải thưởng Nobel dành cho văn học cũng có những vấn đề của nó. Văn học là một thuật ngữ có nội dung rất rộng và những quy chế của Quỹ Nobel đã quy định rất chính xác rằng cuộc tham gia tranh giải không chỉ riêng belles-lettres – văn chương sáng tác, mà bất kì tác phẩm nào có giá trị văn học, thông qua nội dung và hình thức của nó. Nhưng như vậy, phạm vi trao giải rất rộng và sẽ dẫn đến nhiều khó khăn. Nếu như việc quyết định sẽ trao giải cho ai trong số các nhà thơ theo trường phái trữ tình, sử thi hay bi kịch đã là khó khăn, thì nhiệm vụ còn khó khăn hơn nhiều nếu phải lựa chọn giữa một sử gia kiệt xuất, một triết gia thiên tài, và một nhà thơ vĩ đại. Đó là những đại lượng vô ước, nói theo cách của các nhà toán học. Nhưng ta có thể tự an ủi rằng, do giải thưởng được trao hàng năm, các tác giả xứng đáng được trao giải nhưng phải nhường vị trí đó cho một người khác ngang tài, có thể được nhận giải trong những năm sau.

Rất nhiều người xuất sắc đã được đề cử lên Viện Hàn lâm Thụy Điển cho giải thưởng văn học. Viện đã tổ chức một cuộc bình chọn thật cẩn thận. Trong số những tên tuổi nổi tiếng khắp toàn cầu và gần như ngang nhau về tài năng văn học, Viện quyết định chọn một người mà họ, theo nhiều quan điểm khác nhau, tin tưởng ông xứng đáng được nhận giải lần này. Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao Giải Nobel Văn học đầu tiên cho nhà thơ, triết gia Sully Prudhomme của Viện Hàn lâm Pháp.

Sully Prudhomme sinh ngày 16 tháng 3 năm 1839. Và năm 1865, ông đã nổi lên như một nhà thơ đỉnh cao với tác phẩm Tứ tuyệt và các bài thơ . Sau tập thơ này là nhiều tác phẩm thơ ca, triết lí và mĩ học khác. Nếu trí tưởng tượng của những nhà thơ khác chủ yếu là hướng ra ngoài nhằm phản ánh cuộc sống và thế giới xung quanh, thì Sully Prudhomme lại có một bản tính hướng nội, vừa nhạy cảm vừa tinh tế. Trong thơ ông hiếm có những hình ảnh và tình huống thực của đời sống, mà chủ yếu là những hình ảnh và tình huống đóng vai trò tấm gương trầm tưởng thi ca. Tình yêu đối với những giá trị tinh thần, sự ngờ vực, nỗi sầu thảm mà không gì trên trần thế có thể xua tan được, đó là những chủ đề thường gặp trong thơ ông, những tác phẩm hoàn thiện về hình thức và mang vẻ đẹp của nghệ thuật điêu khắc, trong đó không bao giờ có một từ thừa. Thơ ông mang màu sắc đa dạng, mặc dù hiếm khi mang giai điệu du dương nhưng lại cực kì uyển chuyển trong việc sáng tạo các hình thức phù hợp nhằm thể hiện những cảm giác và ý tưởng. Tao nhã, sâu sắc và u buồn, tâm hồn ông tự bộc bạch trong thơ, dịu dàng nhưng không uỷ mị, lối phân tích buồn thảm gieo vào lòng độc giả một thông cảm u hoài.

Với sức lôi cuốn của cách diễn đạt tao nhã, bằng nghệ thuật tuyệt vời, Sully Prudhomme trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất thời đại chúng ta. Một số bài thơ của ông là những viên ngọc bất hủ. Viện Hàn lâm Thụy Điển ít bị lôi cuốn bởi những bài thơ mang tính giáo dục và trừu tượng, mà bị lôi cuốn nhiều hơn bởi những tác phẩm nhỏ mang chất trữ tình, những tác phẩm tràn đầy cảm xúc và chiêm nghiệm, những tác phẩm lôi cuốn người đọc bởi sự tao nhã, bởi chân giá trị của chúng và bởi sự kết hợp hiếm có giữa sự phản ánh tinh tế và tình cảm dồi dào.

Để kết luận, cần thiết phải nhấn mạnh một đặc điểm: Tác phẩm của Sully Prudhomme đã bộc lộ một óc luôn quan sát và tìm tòi không bao giờ ngơi nghỉ, một bộ óc đã tìm ra được – dường như đối với ông đó là giới hạn – rằng vận mệnh siêu nhiên của con người nằm ngay ở trong thế giới đạo đức, trong tiếng nói của lương tâm và trong mệnh lệnh cao quý và không thể chối từ của tinh thần trách nhiệm. Với quan điểm như vậy, Sully Prudhomme đã thể hiện tốt hơn hầu hết các tác giả khác những gì mà tác giả bản Di chúc (tức A. Nobel – BT) gọi là “khuynh hướng tinh thần trong văn học”. Do đó, Viện Hàn lâm tin tưởng rằng mình đã hành động đúng theo tinh thần mà Nobel mong muốn, khi quyết định chọn Sully Prudhomme trong số rất nhiều nhà hoạt động văn học lừng lẫy để trao giải thưởng đầu tiên này.

Sully Prudhomme đã đồng ý nhận giải, nhưng thật không may, ông bị ốm nên không thể đến dự với chúng ta hôm nay. Vì lí do đó, tôi rất lấy làm vinh hạnh mời ngài Công sứ Pháp lên nhận phần thưởng và nhân danh Viện Hàn lâm Thụy Điển trao lại cho ông(3).

Thanh Loan dịch từ bản tiếng Anh
Ngô Tự Lập hiệu đính
(Nguồn: http://nobelprize.org)
© Culture Globe

Ghi chú:

(1) Để tránh trùng lặp, chúng tôi không chú tên nguyên tác ở đây, xin xem thêm ở mục Tác phẩm dưới đây.

(2) Do Thư kí thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển C.D. af Wirsén đọc tại buổi lễ trao Giải; S. Prudhomme, cũng như một số nhà thơ khác trong tập sách này, do ốm không đến dự lễ trao Giải nên không có Diễn từ Nobel

(3) Tại buổi tiệc, C.D. af Wirsén đã đề nghị ngài Công sứ Pháp chuyển giúp lòng khâm phục của mình tới nhà thơ Pháp, người đã kết hợp một cách tuyệt vời giá trị của trái tim và khối óc. Ông cũng nhờ ngài Công sứ gửi tới Viện Hàn lâm Pháp lời chào của Viện Hàn lâm Thụy Điển, người anh em trẻ tuổi hơn. Viện Hàn lâm Thụy Điển lấy làm tự hào được bày tỏ lòng quý trọng từ quê hương của Tegnér và Geijer tới đất nước đã sinh ra Racine, Corneille và Victor Hugo. Ngài Marchand, Công sứ Pháp, đã đáp lại bằng một bài diễn văn sâu sắc và sinh động.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây