Selma Lagerlöf – nữ nhà văn đầu tiên nhận Giải Nobel Văn Học

0
559

Selma Lagerlöf (20/11/1858 – 16/3/1940) là nhà văn nữ đầu tiên được nhận Giải Nobel Văn Học. Đặc điểm nổi bật trong các tác phẩm của bà là lý tưởng cao cả và trí tưởng tượng rực rỡ. Tiểu thuyết  Cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils Holgerssons qua suốt nước Thụy Điển” là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của bà được viết theo tinh thần truyện kể dân gian, kết hợp chất lãng mạn trong những câu chuyện cổ tích thần tiên với tính thực tế của người nông dân.

>> Xem thêm: Rudyard Kipling – nhà văn Anh với trí tưởng tượng rực rỡ

 Lagerlöf, Selma
Giải Nobel Văn học 1909: Lagerlöf, Selma (20/11/1858 – 16/3/1940) (Ảnh: wikipedia)

Tiểu sử Selma Lagerlöf

Selma Ottiliana Lovisa Lagerlöf xuất thân từ gia đình dòng dõi quý tộc lâu đời đã sa sút, bố là sĩ quan về hưu. Năm lên ba, bà bị bệnh bại liệt, không đi lại được một năm và thọt chân suốt đời. S. Lagerlöf tự học ở nhà với bà, nghe vô số chuyện cổ tích, thần thoại, đọc và bắt đầu sáng tác thơ. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm nữ Hoàng gia, năm 1885 bà trở thành cô giáo tại trường dành cho học sinh nữ Landskrona (miền Nam Thụy Điển). Tại đây, dưới ấn tượng của các câu chuyện thần thoại và phong cảnh tuyệt đẹp của miền quê, bà đã bắt đầu viết tiểu thuyết đầu tay Truyền thuyết về Gösta Berlings (1891), cuốn sách được tặng giải nhất của một cuộc thi văn học và mang lại danh tiếng cho nữ nhà văn trẻ, và bà đã quyết định dành trọn đời mình cho sự nghiệp sáng tác văn học.

Từ giữa những năm 1890, được nhận trợ cấp của vua Oscar II và sự giúp đỡ tài chính của Viện Hàn lâm Thụy Điển, S. Lagerlöf đi du lịch qua các nước Italia, Palestin, Ai Cập và viết các truyện Những phép lạ của tên nghịch Chúa và tác phẩm đỉnh cao của mình là Jerusalem. Năm 1904, bà được tặng Huy chương vàng của Viện Hàn lâm Thụy Điển; và với số tiền bán sách bà đã mua lại trang trại của gia đình bị bán đi trước đây do túng thiếu. Năm 1906, S. Lagerlöf xuất bản cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của mình, được cả thế giới đọc là Cuộc phiêu lưu kì thú của Nils Holgerssons qua suốt nước Thụy Điển. Năm 1909, bà được trao Giải Nobel vì những tác phẩm đã kết hợp được “Sự trong sáng và giản dị của ngôn ngữ, vẻ đẹp của văn phong và trí tưởng tượng phong phú với sức mạnh đạo lí và độ sâu của các cảm xúc tín ngưỡng”. Những năm sau đó, S. Lagerlöf tiếp tục viết về vùng quê Värmland với những truyền thuyết và giá trị văn hóa của nó, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động xã hội, phong trào phụ nữ, chống chiến tranh. Bà đã giúp nhiều nhà hoạt động văn hóa Đức thoát khỏi sự truy bức của chủ nghĩa phát xít, trong đó có nữ nhà văn Nelly Sachs, người nhận Giải Nobel Văn học năm 1966 cùng với nhà văn Do Thái Samuel Agnon.

Sau một cơn bệnh kéo dài, S. Lagerlöf mất tại nhà riêng ở tuổi 81.

Lời tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển(1)

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển – Wikipedia tiếng Việt

Lịch sử cho chúng ta biết rằng, đã có thời nhân dân Thụy Điển chiến đấu để giành vị trí danh dự trên thế giới trong lĩnh vực quân sự. Thời đại súng ống đã qua, nhưng trong cuộc cạnh tranh trên vũ đài quốc tế giành những giải thưởng Hòa bình, nhân dân Thụy Điển từ lâu luôn giữ một vị trí đáng kính, và giờ phút này là lúc Thụy Điển có thể hiên ngang bước vào cuộc đua tranh với các quốc gia đại thụ trong lĩnh vực văn học. Hoạt động trí óc được quyết định bởi sức sống, điều không phải tính bằng số dân hay số lượng tiền vàng, mà bằng khả năng đáp ứng được nhiều hay ít những nhu cầu tinh thần và nhu cầu đạo đức.

Geijer, Tegnér hay Runeberg và nhiều người khác nữa, đều xứng đáng được đề cử để nhận Giải Nobel, và những gì họ khởi xướng giờ đã tiến rất xa. Tuy nhiên, trong số các nhà văn thuộc thế hệ sau – những văn sĩ đã đóng góp không nhỏ cho nền văn học của chúng ta – nổi lên một cái tên ngang tầm với vẻ rực rỡ của ngôi sao đang độ sáng chói. Trong sáng tác của Selma Lagerlöf, chúng ta nhận thấy những phẩm chất cao quý và trong sáng nhất của Người Mẹ Thụy Điển vĩ đại. Cách đây năm năm, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã thừa nhận tầm quan trọng và sức mạnh của những cống hiến của bà cho thơ ca Thụy Điển bằng việc trao cho bà huy chương Vàng “Vì sức tưởng tượng dồi dào, lí tưởng cao đẹp và tài năng kể chuyện đã cuốn hút vô số độc giả trên khắp đất nước Thụy Điển cũng như ở nhiều nước khác”. Sự tôn vinh này nhận được sự hưởng ứng của mọi tầng lớp trong xã hội. Hôm nay người dân Thụy Điển chắc chắn sẽ còn tự hào hơn khi biết rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển còn đánh giá cao hơn nữa những thành quả văn chương của Selma Lagerlöf, coi tác phẩm của bà xứng đáng được xếp ngang hàng với những tác phẩm là tài sản của nhân loại và thấm đẫm những lí tưởng cao đẹp mà Nobel yêu cầu đối với giải thưởng ông sáng lập ra. Không nên cho rằng quyết định trên xuất phát từ lòng tự tôn dân tộc thái quá, bởi lẽ có rất nhiều nhà phê bình nước ngoài cùng chung quan điểm ủng hộ bà. Cũng không nên cho là thiếu khiêm nhường khi Giải Nobel đã được trao lần thứ chín mà vẫn chỉ bó hẹp trong ranh giới quốc gia sáng lập. Trái lại, một sự khiêm nhường như vậy chẳng khác gì sự thiếu tự tin dân tộc.

Không mấy tiểu thuyết đầu tay lại thu hút được nhiều chú ý như cuốn Truyền thuyết về Gösta Berlings (1891). Tác phẩm giàu ý nghĩa không chỉ bởi nó đoạn tuyệt với hiện thực giả dối và bệnh hoạn của thời bấy giờ, mà còn bởi nghệ thuật độc đáo của nó. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều hoan nghênh nó. Nhiều người hết lời ca tụng nhưng một số người lại chỉ trích gay gắt. Nhưng có lẽ chính điều đó lại là bằng chứng hiển nhiên nhất về tính độc đáo phi thường của tác phẩm. Người ta không thể không ngưỡng mộ một trí tưởng tượng vô song thậm chí từ thời Almqvist. Dù các nhân vật và các tình huống mà bà sáng tạo ra có kì dị đến đâu, chúng vẫn được khoác những bông hoa đẹp đẽ của thiên tài nghệ thuật thực thụ, và cách thể hiện cho ta một vẻ đẹp đầy quyến rũ. Người đọc đặc biệt cảm động sâu sắc khi bất ngờ gặp lại trong tác phẩm của bà những mảnh đời sống của thôn quê Thụy Điển bị quên lãng từ lâu, trái tim người đọc rung lên trong lồng ngực, và khung cảnh lộng lẫy lạ kì mê hoặc mọi giác quan. Tác phẩm đầu tay này vẫn còn một số nhược điểm. Nhưng làm sao mà tránh được! Ngọc nào chẳng có vết, và có thiên tài nào vừa bước vào thế giới văn chương đã lập tức chín muồi? Nhưng có một điều hết sức hiển nhiên: một thiên tài Thụy Điển thực sự đang đập cánh để bay lên.

Chẳng bao lâu sau bà bước vào vương quốc những di sản thực sự của mình, đó là thế giới bí ẩn của truyền thuyết và truyện cổ tích. Chỉ có một tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những huyền thoại từ thời thơ ấu, một tâm hồn biết cộng thêm tình yêu vào trí tưởng tượng phong phú của mình, mới dám lí giải những bí mật của thế giới vô hình nằm ngay cạnh hay bên dưới thế giới hữu hình. Khả năng tưởng tượng của Lagerlöf, rất đặc trưng trong tác phẩm, mạnh hơn bất kì người nào khác kể từ thời St. Birgitta. Giống như những khúc xạ trong khí nóng của sa mạc tạo thành những ảo ảnh sinh động đánh lừa kẻ đi đường, trí tưởng tượng phong phú và đầy màu sắc của Selma Lagerlöf như có một ma lực thổi sự sống vào những quan sát của bà. Bất kì ai nghe thơ bà đều có liên tưởng này. Điều này đặc biệt đúng trong những đoạn bà mô tả thiên nhiên. Với bà, thiên nhiên, ngay cả những vật vô tri vô giác, đều có một cuộc sống thực sự, tuy vô hình. Vì thế, ngòi bút nghệ thuật điêu luyện của bà không bằng lòng với việc mô tả vẻ đẹp bề ngoài của thiên nhiên. Đôi mắt tràn đầy tình thương yêu dõi theo cuộc sống bên trong của tự nhiên, còn đôi tai mẫn cảm lắng nghe ngôn ngữ câm lặng của nó. Đó là lí do tại sao bà lại thành công khi lột tả những bí ẩn đẹp đẽ của thế giới cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại và chuyện thánh thần – những bí mật mà không phải những ngôn từ trau chuốt mà chỉ có những ngôn từ thật giản đơn mới có thể cảm nhận được, đúng như lời bà của Selma Lagerlöf, sự giản dị “Có đôi mắt nhìn thấu được những bí mật của Chúa”.

Như một nghệ sĩ chuyên vẽ đề tài cuộc sống thôn quê, bà là một cây viết độc đáo và ngang ngửa với các tác giả xuất sắc nhất của các nước khác. Tác phẩm Cô bé từ trang trại đầm lầy (Tosen fran stormyrtorpet, 1908) là một bức tranh kiệt tác phác họa chân thực và sinh động phong cảnh đồng quê. Tác phẩm này cũng thể hiện vẻ đẹp mới mẻ và sâu lắng trong sức sống mãnh liệt của tình yêu vị tha xuyên suốt tác phẩm. Và còn nhiều tác phẩm khác cũng không kém phần hấp dẫn. Tuy nhiên, tài năng của Selma Lagerlöf thể hiện rõ nhất trong một thành tựu đáng tự hào có nhan đề là Jerusalem (1901-1902). Những biến đổi về đời sống tâm linh đôi lúc khuấy động tầng lớp nông dân của chúng ta hiếm khi được mô tả sinh động và chính xác như trong những đoạn mô tả cuộc hành hương của dân tộc Dalekarlia tới miền đất thánh chính. Người đọc có cảm giác như chính mình được chứng kiến diễn biến của cuộc hồi hương của dân tộc nghiêm túc và nội tâm này, để rồi ngồi lại suy ngẫm về những bí ẩn của cuộc sống. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những người này, bị giằng xé giữa tín ngưỡng và mê tín, bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn giữa một bên là tình yêu dành cho mảnh đất tổ tiên để lại và bên kia là sự lo sợ sẽ đi chệch đường với Chúa, cuối cùng phải rời bỏ quê hương, bởi họ tin rằng tiếng chuông vang vọng trên cao là dấu hiệu hướng họ hành hương đến mảnh đất thánh. Cũng hoàn toàn tự nhiên nếu như trong trái tim của người con tự nguyện lưu đày này, quá vui sướng khi nhìn thấy miền đất mà Chúa Jesus từng đặt chân, dâng lên khát vọng chinh phục vùng đất xanh tươi vùng cực bắc xa xôi, ở miền Dalarna cổ kính. Tiếng rì rầm của sông và tiếng rì rào của rừng sâu luôn văng vẳng bên tai họ. Với khả năng cảm thụ sâu sắc, nhà thơ đã làm cho những điều bí hiểm sâu cùng trong tâm hồn họ phải lên tiếng, và chất thơ tinh khiết đã làm đổi thay cuộc sống tẻ nhạt đau thương của họ. Trong đoạn mở đầu của Jerusalem, với nhan đề Con trai của Ingmar (Ingmarssönerna), bà ngụ ý một cách xúc động, rằng cuộc sống và chiến công của cha ông sẽ quyết định số phận của các thế hệ con cháu.

Phong cách của Selma Lagerlöf đáng được chúng ta ca ngợi. Như một người con gái trung thành, bà đã phát huy được sự giàu có của tiếng mẹ đẻ. Nhờ vậy bà có cách biểu đạt trong sáng, rõ ràng và chất nhạc mượt mà luôn hiện hữu trong tất cả sáng tác của mình.

Sự trong sáng và dung dị trong biểu đạt, vẻ đẹp của hành văn và trí tưởng tượng phong phú của bà còn được kết hợp với sức mạnh đạo đức và tình cảm tôn giáo sâu sắc. Dĩ nhiên, điều đó chỉ có thể có ở mà cuộc sống là một “Sợi chỉ trên khung cửi khổng lồ của Chúa”. Trong thơ ca cao thượng như thế, bầu khí quyển bao giờ cũng tinh khiết. Có không ít truyền thuyết của bà đã đạt được phong cách giản dị mà cao thượng của Kinh thánh. Nhưng điều khiến các tác phẩm của Selma Lagerlöf được yêu thích đến vậy là chúng ta dường như luôn nghe thấy trong đó tiếng vọng riêng biệt nhất, mạnh mẽ nhất, cũng như thấy trong đó những điều kì diệu nhất làm lay động con tim của nhân dân Thụy Điển. Không mấy ai hiểu được bản chất sâu thẳm của người dân Thụy Điển với một tình yêu nồng cháy như bà.

Trong tác phẩm Cô bé từ trang trại đầm lầy, khi vị quan tòa nghiêm khắc mà tính cách nghiệt ngã ngày càng bộc lộ trước tình yêu Chúa quên mình của cô gái trẻ, cuối cùng đã phải xúc động tự nhủ: “Đó là dân tộc tôi. Và tôi sẽ không nổi giận với họ bởi vì trong số những kẻ hèn mọn đó vẫn có người thành kính và tôn thờ Chúa đến vậy”, thì đó chính là tiếng nói của trái tim bà. Cái nhìn chân thành và sâu sắc như vậy chỉ có thể có ở người mà tâm hồn đã gắn bó thân thiết với mảnh đất Thụy Điển, người được nuôi dưỡng bằng những huyền thoại, lịch sử, văn hóa dân gian và thiên nhiên của mảnh đất này. Ta có thể dễ dàng hiểu được tại sao cảnh chiều hôm huyền bí, huyền ảo và gợi lòng nhớ tiếc vốn đặc trưng cho thiên nhiên Bắc Âu lại xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm của bà. Sự vĩ đại của bà chính là khả năng vận dụng cả trái tim lẫn thiên tài của mình để làm cho người đọc tự nhận ra mình qua những đặc điểm và tính cách vốn là đặc thù của dân tộc mình.

Chúng ta chắc chắn sẽ làm đúng ý nguyện của người sáng lập khi trao vinh dự cao quý này cho những biết gợi lên những gì tốt đẹp trong tâm hồn con người, những người mà tên tuổi cũng như những đóng góp của họ vượt ra ngoài biên giới Thụy Điển. Sẽ chẳng có nhà văn tên tuổi nào, dù ở Thụy Điển hay ở các nước khác, cảm thấy ghen tị nếu Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố trao Giải Nobel Văn học năm nay cho người con kiệt xuất của Thụy Điển, Selma Lagerlöf.

Đôi lời suy nghĩ của Selma Lagerlöf (1)

Cách đây vài ngày tôi ngồi mơ màng trên con tàu hướng về Stockholm. Lúc đó trời vừa nhập nhoạng tối. Chỉ có một chút ánh sáng leo lét trong toa tàu, còn bên ngoài trời tối đen như mực. Những người bạn đồng hành ngủ gà ngủ gật, còn tôi lặng lẽ ngồi nghe tiếng xình xịch liên hồi của đoàn tàu đang lăn bánh lao vào đêm tối.

Khi đó tôi bắt đầu hồi tưởng lại tất cả những lần tôi đến Stockholm, thường là để thực thi một nhiệm vụ gian khó: khi thì thi cử, khi thì tìm kiếm một nhà xuất bản cho tập bản thảo đã hoàn thành. Lần này tôi đến để nhận giải thưởng Nobel Văn học. Và công việc này, tôi cho rằng cũng không kém cam go.

Suốt mùa thu tôi sống hoàn toàn ẩn dật trong ngôi nhà cũ ở Värmland, còn bây giờ tôi sẽ phải bước lên trước sự hiện diện của biết bao người. Cuộc sống ẩn dật đã làm cho tôi có cảm giác e ngại cuộc sống hối hả, và chỉ nghĩ đến việc phải đối mặt với nó là tôi đã rùng mình.

Tuy nhiên, sâu thẳm trong tâm hồn tôi là niềm vui sướng được nhận giải thưởng cao quý này, và tôi cố xua mối lo lắng bằng cách nghĩ tới những người sẽ cùng vui chung với may mắn của tôi. Đó là những người bạn tốt, các anh chị của tôi, trước tiên và trên hết là người mẹ già của tôi, bà đang ngồi ở nhà, quá đỗi sung sướng vì đã sống được để chứng kiến sự kiện trọng đại này.

Rồi tôi lại nghĩ đến cha tôi và cảm thấy đau buồn vô hạn vì ông không còn trên cõi đời này nữa. Tôi không còn có thể đến bên ông để nói rằng tôi đã được trao Giải Nobel. Tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể hạnh phúc hơn ông khi đón nhận tin vui này. Tôi chưa từng gặp trong đời một ai khác có tình yêu và lòng tôn kính đối với từng câu văn và những người tạo ra nó như ông. Ước gì cha cũng biết rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển đã ban tặng cho tôi giải thưởng vĩ đại này. Vâng, thật buồn vì tôi không thể làm điều đó.

Bất cứ ai từng ngồi trên một chuyến tàu đêm đều cảm nhận những giây phút dài dằng dặc khi các toa xe êm ái lướt đi. Tất cả những tiếng xình xịch, rập rình tan đi và tiếng bánh xe hóa thành một giai điệu êm dịu, thanh bình. Dường như những toa xe không lướt trên đường ray với những thanh tà vẹt nữa, mà đang lướt đi trong không khí. Vâng, đó là cảm giác khi tôi ngồi trên tàu và ước ao được gặp lại cha già. Chuyển động im lặng trong đêm của con tàu khiến tôi thật khó hình dung được rằng mình đang ở trên mặt đất. Tôi bắt đầu mơ màng: “Hãy thử nghĩ xem, nếu mình đang đi gặp cha trên Thiên đàng! Hình như mình đã được nghe chuyện này xảy đến với nhiều người, vậy tại sao nó lại không xảy đến với mình?”. Con tàu tiếp tục lướt đi, còn cả một chặng đường dài, và những ý nghĩ của tôi vượt lên phía trước. Cứ thế, tôi ngồi đó và nghĩ đến cảnh mình sẽ gặp cha đang ngồi trên chiếc ghế xích đu ngoài hiên, trước khu vườn tràn ngập hoa, chim và nắng. Chắc hẳn ông đang đọc Truyện dòng họ Fritjof(3), nhưng khi thấy tôi, cha sẽ đặt cuốn sách xuống, đẩy cặp kính lên trán, đứng dậy, tiến đến bên tôi. Ông sẽ nói như thường lệ: “Chúc một ngày tốt lành, con gái, cha rất vui được gặp con” hay “Sao con lại ở đây? Con có khỏe không, con yêu?”.

Cha sẽ lại ngồi xuống ghế xích đu và chỉ lúc đó mới ngạc nhiên tại sao tôi lại đến gặp ông. Rồi bất thình lình ông hỏi: “Có chuyện rắc rối gì không con?”. Tôi sẽ trả lời: “Không, thưa cha, mọi việc đều ổn thỏa”. Nhưng sau đó, đúng lúc sắp sửa tiết lộ điều bí mật, tôi quyết định giữ nó lại thêm chút nữa và cố gắng nói vòng vo: “Con đến để xin cha một lời khuyên, thưa cha, bởi vì con đang mắc nợ”.

Ông sẽ đáp: “Cha e là về vấn đề này cha không giúp con được nhiều. Ai cũng biết nơi đây, cũng giống như trong ngôi nhà cũ kĩ của chúng ta ở Varmland vậy, cái gì cũng có, chỉ trừ tiền bạc”.

“Nhưng con không nợ tiền”.

 “Vậy thì còn tệ hại hơn. Nào con gái, hãy kể cho ta nghe từ đầu”.

“Cha chẳng giúp gì được con đâu, vì đó chính do những sai lầm của cha. Cha có còn nhớ, cha đã chơi piano và hát những bài hát của Bellman cho chúng con nghe khi con còn bé như thế nào không? Và ít nhất hai bận mỗi mùa đông, cha cho chúng con đọc sách của Tegner, Runeberg và Andersen? Đó chính là lúc con bắt đầu mắc nợ. Cha ơi, làm sao con có thể trả nợ cho những người đã từng dạy con biết yêu cổ tích thần tiên, yêu những bản anh hùng ca, yêu mảnh đất chúng ta đang sống, yêu cuộc sống của loài người với tất cả vinh quang và bất hạnh?”

Cha sẽ vươn thẳng người trên ghế và nhìn tôi kinh ngạc: “Cha rất mừng vì đã làm cho con mắc món nợ đó”. “Vâng, có thể là cha nói đúng, thưa cha. Nhưng đâu chỉ có vậy, thưa cha. Con còn mắc nợ biết bao người nữa. Đó là những kẻ vô gia cư khốn khó, những người đã lang thang khắp nơi ở Varmland thời trai trẻ của cha, diễn trò và hát. Làm sao con có thể không biết ơn họ, biết ơn những trò tinh nghịch, quỷ quái của họ. Và những ông lão, bà lão trong những túp lều nhỏ xám xịt, họ bước ra khỏi rừng, kể cho con nghe câu chuyện tuyệt vời về thủy thần, những người khổng lồ gian ác và những cô gái đẹp bị mê hoặc và dụ dỗ lên núi. Chính họ đã dạy con rằng trong đá sỏi và rừng sâu cũng có thơ ca. Và thưa cha, còn có những thầy tu, những bà sơ nhợt nhạt, má hóp trong tu viện, những quang cảnh họ được thấy, những tiếng nói họ được nghe. Con đã vay mượn ở họ cả một kho tàng truyền thuyết. Rồi còn những người nông dân của đất nước chúng ta, những người đã đến tận Jerusalem, liệu con có phải chịu ơn họ về những chiến công huy hoàng đã trở thành đề tài để con sáng tác? Và con không chỉ mắc nợ con người. Con mắc nợ cả thiên nhiên. Thú vật trên mặt đất, chim chóc trên bầu trời, cây cỏ và hoa lá, tất cả chúng đều kể cho con nghe những bí mật của mình”.

Cha sẽ mỉm cười, khẽ gật đầu và hoàn toàn không còn vẻ lo lắng nữa. Còn tôi thì càng làm ra vẻ nghiêm trọng: “Nhưng thưa cha, chẳng lẽ cha không hiểu rằng con đang oằn lưng vì nợ hay sao? Không một ai trên trái đất này biết con sẽ phải trả món nợ ấy bằng cách nào, nhưng con nghĩ, ở trên Thiên đàng, có thể là cha biết”. “Chúng ta đều biết. Đừng sợ hãi, con yêu. Có một phương thuốc cho nỗi ưu phiền của con” – cha nói với vẻ thư thái tự nhiên thường lệ.

“Vâng thưa cha, nhưng đó chưa phải là tất cả. Con mắc món nợ quá lớn với những người đã kiến tạo, đúc kết ngôn ngữ của chúng ta thành một thứ công cụ hữu hiệu như ngày nay và đã dạy con cách sử dụng nó. Làm sao con có thể không mắc nợ những người đã viết nên những áng văn, những vần thơ từ thuở trước, những người đốt đuốc soi đường, những người mở lối, những người đã biến việc viết thành nghệ thuật? Những người Na Uy và người Nga vĩ đại, những người đã viết khi con còn rất nhỏ, làm sao con có thể không mắc nợ họ nghìn lần? Chẳng phải là con đã may mắn được sống đúng vào lúc nền văn học nước nhà đã đạt đến đỉnh cao, được thấy những hoàng đế bằng cẩm thạch của Rydberg, thế giới thơ ca của Snoilsky, những câu chuyện hấp dẫn của Strindberg, những chuyện dân gian của Geijerstam, những con người hiện đại của Anne-Chaltotte Edgren và Ernst Ahlgren, thế giới Phương Đông của Heidenstam hay sao? Và còn Sophie Elkan, người đã đưa lịch sử vào cuộc sống, Froding và những truyện cổ tích của ông về vùng đồng bằng xứ Värmland, những truyền thuyết của Levertin, Thanatos của Hallstrom, những tác phẩm của Karlfeldt và nhiều nữa, tất cả đều mới lạ và trẻ trung, đã nuôi dưỡng trí tưởng tượng của con, thôi thúc con tranh đấu, giúp những ước mơ của con nở hoa kết trái – chẳng lẽ con không nợ họ gì sao?”

“Đúng, đúng, con nói đúng. Con đã nợ nhiều quá, nhưng đừng sợ, chúng ta sẽ tìm được cách giải quyết”.

“Thưa cha, con nghĩ cha không thể hiểu nổi món nợ đó đè nặng lên con đến mức nào. Cha không nhận ra rằng con còn mắc nợ cả những độc giả của con. Con nợ họ thật nhiều, nợ từ vị vua già và chàng hoàng tử út, những người đã giúp để con lang thang học nghề ở miền Nam, đến những em học sinh nhỏ nguệch ngoạc viết những dòng cảm ơn gửi đến Nils Holgerssons. Con sẽ ra sao nếu không ai muốn đọc sách của con? Và xin cha đừng quên những người đã viết về con. Xin cha hãy nhớ nhà phê bình nổi tiếng người Đan Mạch, người chẳng cần nhiều lời, đã đem lại cho con vô số bạn bè trên khắp Đan Mạch! Ông là người có thể trộn mật với cao lương mĩ vị lão luyện hơn bất cứ một người Thụy Điển nào từ trước đến nay. Giờ đây ông đã mất. Hãy nghĩ đến tất cả những người ở nước ngoài, những người đã làm việc vì con. Con chịu ơn họ, vì cả sự ngợi khen và những lời phê phán”.

“Đúng, đúng”. Cha sẽ nói và trở nên trầm ngâm hơn. Chắc chắn cha đã bắt đầu hiểu ra rằng không dễ gì giúp được tôi.

Tôi sẽ nói tiếp: “Hãy nhớ đến tất cả những người đã giúp đỡ con, thưa cha. Hãy nghĩ đến người bạn Esselde chung thủy của con, người đã cố gắng mở rộng cửa đón nhận con khi không một ai dám tin con. Hãy nghĩ đến người đã gìn giữ, bảo vệ tác phẩm của con! Hãy nghĩ về người bạn tốt, người bạn đồng hành, người không chỉ đưa con đến miền Nam, chỉ cho con thấy vinh quang của nghệ thuật, mà còn làm cho cuộc sống của con tươi sáng và hạnh phúc hơn. Mọi tình cảm dành cho con, cùng với những vinh dự và giải thưởng. Chẳng lẽ bây giờ cha không hiểu rằng con đến đây chỉ để hỏi cha, con phải làm gì để trả những món nợ này?”

Cha sẽ cúi đầu xuống và không còn vẻ lạc quan lúc trước.

“Cha đồng ý, con gái, không dễ gì tìm được cách giúp con, nhưng con chắc không mắc nợ ai nữa chứ?”

“Đúng, thưa cha, những món nợ đó đã là quá nặng, nhưng vẫn chưa phải là món nợ lớn nhất của con. Chính vì thế con mới đến đây để xin cha một lời khuyên”. Cha tôi sẽ nói: “Cha không hiểu, con vẫn còn món nợ nào khác nữa”. “Nhưng đúng thế đấy, cha ạ” – tôi sẽ đáp lại và sẽ kể cho ông nghe tất cả.

“Cha không thể tin rằng Viện Hàn lâm…”, cha sẽ nói vậy, nhưng khi nhìn vào mắt tôi cha sẽ hiểu đó là sự thật. Lúc đó những nếp nhăn trên gương mặt cha khẽ run lên và những giọt nước mắt ứa ra từ khóe mắt ông.

“Con sẽ nói gì với những người đã đề cử tên con, với những người đã ra quyết định trao giải thưởng. Thưa cha, cha thử nghĩ xem, đó không chỉ là danh dự và tiền bạc. Khi họ lựa chọn con trong vô vàn những ứng viên trên toàn thế giới, họ đã cho con thấy rằng họ tin tưởng ở con. Món nợ này, con biết trả sao đây?”

Cha ngồi đó, dù cố vắt óc ông cũng không thể nghĩ ra được lời nào. Và rồi, lau những giọt nước mắt vui sướng, ông sẽ đập mạnh nắm tay xuống thành ghế và nói: “Cha sẽ không cố vắt óc thêm về những vấn đề mà chẳng có ai trên Thiên đàng hay trên trái đất có thể giải quyết được. Cha quá hạnh phúc khi biết tin con được trao giải thưởng Nobel, và cha chẳng còn có thể nghĩ ngợi thêm gì nữa!”

Thưa Đức Vua, thưa các vị Hoàng thân, thưa các quý ông, quý bà! Tôi chẳng thể nhận được câu trả lời nào tốt hơn cho những câu hỏi của mình, tôi chỉ còn biết mời các ngài hãy cùng tôi nâng cốc rượu mừng mà tôi có vinh dự được dành cho Viện Hàn lâm Thụy Điển.

Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Selma Lagerlöf

Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils 

“Cuộc phiêu lưu kỳ diệu của Nils” tên đầy đủ là Cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils Holgerssons qua suốt nước Thụy Điển” là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Selma Lagerlöf được viết theo tinh thần truyện kể dân gian, kết hợp chất lãng mạn trong những câu chuyện cổ tích thần tiên với tính thực tế của người nông dân.

Nils là một đứa trẻ nghịch ngợm, cậu thường hay bắt nạt các con vật yếu ớt hơn mình. Chính vì vậy, cậu Nils bị trừng phạt; bị biến thành người tý hon cho các con vật bắt nạt. Để thoát ra, Nils đã cưỡi trên lưng những con ngỗng trời ngao du vòng quanh đất nước Thụy Điển. Những con ngỗng trời đã dạy cho cậu tính nhân hậu và lòng dũng cảm, trước khi quay lại cuộc sống bình thường.

 

“Những cuộc phiêu lưu của Nils” là một tác phẩm kinh điển của Selma Lagerlof. Tuy đây là cuốn sách dành cho thiếu nhi nhưng ý nghĩa vô cùng sâu sắc, ngay cả người lớn cũng có thể tìm thấy trong đó những điều mình cần.

Kho Báu

Khác với “Những cuộc phiêu lưu của Nils” đậm chất cổ tích, tiểu thuyết “Kho Báu” thẫm đẫm tính trinh thám. Tác giả sử dụng lối viết, văn phong, tư duy khác hẳn. Nhưng đây cũng là tác phẩm cực kỳ thành công và nổi tiếng của Selma Lagerlof. Tác phẩm này thậm chí đã được chuyển thể thành phim ba lần vào các năm 1919, 1954, 1967. Đây cũng là tác phẩm quan trọng được chọn cho hầu hết các thư viện lớn trên khắp thế giới.

Một nhà văn lớn thì luôn biết cách thay đổi và làm mới mình!

Lấy bối cảnh ở Bohuslen vào thế kỷ 16, tác phẩm này kể câu chuyện ba gã lính đánh thuê người Scotland sau khi vượt ngục đã xông vào nhà ông mục sư Arne, giết người phóng hỏa và cướp đi rương tiền. Có hai người sống sót, là anh bán cá Torarin và cô con gái nuôi Elsalill của ông Arne.

Elsalill đem lòng yêu Archie, không biết đó là kẻ thủ ác. Hồn ma cháu gái ông Arne ám Archie, đồng thời chỉ cho Elsalill biết hung thủ. Elsalill quyết định tố cáo người yêu nhưng cũng báo cho Archie biết mà bỏ chạy. Hắn lộ rõ bản chất và dùng cô ra làm tấm khiên chắn khỏi những binh lính truy đuổi. Bẽ bàng và căm tức, Elsalill tự sát.

Ba kẻ sát nhân chạy lên tàu để rời khỏi Marstrand nhưng cả vịnh nước đóng băng khiến chúng không thể thoát thân. Torarin báo cho thuyền trưởng biết, ông và thủy thủ đoàn bắt trói, để chúng phải chịu sự trừng phạt thích đáng.

Nguồn tham khảo: http://nobelprize.org/ TTVHNN Đông Tây

Ghi chú:

(1) Do Claes Annerstedt, Chủ tịch Viện Hàn lâm Thụy Điển đọc.

(2) S. Lagerlöf đọc trong tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel ngày 10/12/1909 tại Grand Hotel (Stockholm).

(3) Nguyên tác Fritjof saga: Tác phẩm của nhà thơ Thụy Điển Esaias Tegner.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây