Những tưởng chưa buông được cảm xúc từ “Người Đua Diều” thì “Chiến Binh Cầu Vồng” lại đến, mang theo nhiều nốt thăng lẫn nốt trầm của dòng cảm xúc mới, có cả những tiếng cười, những nỗi buồn và một chút căm phẫn lẫn sự bất mãn trong đó. Quá đặc biệt, quá nhiều cảm xúc và nhiều thứ đáng học hỏi cho một cuốn sách hay và đáng đọc này.

Chiến binh cầu vồng

CHIẾN BINH CẦU VỒNG, so với “Tottochan bên cửa sổ”- cuốn sách khiến bản thân mình suýt xoa thích thú lâu giờ – thì hiện tại, CHIẾN BINH CẦU VỒNG đã soán ngôi vương. Nếu ở Tottochan, đó là câu chuyện đầy tính nhân văn rằng không để một ai bị bỏ lại phía sau chỉ vì sự khác biệt thì ở CHIẾN BINH CẦU VỒNG, đó không chỉ là không để ai bị bỏ lại, mà còn là câu chuyện nghiệt ngã về con người, khi giáo dục chẳng thể thay đổi số phận của những đứa trẻ ở một hòn đảo xinh đẹp bị lãng quên – Belitong – nơi tận cùng của sự phân biệt giàu nghèo, chủ nghĩa thực dụng gặm dần những đứa trẻ hiếu học, những nhà giáo tận tâm và chính cả hệ thống giáo dục ở đó.

Cuốn sách nhỏ bé chứa đựng bên trong những nghị lực phi thường của 10 đứa trẻ nghèo đói (nhưng ham học mãnh liệt), một người cha đánh cá nghèo khổ (phải gồng mình nuôi 14 miệng ăn trong nhà nhưng dám-can-đảm cho con trai của mình đi học), một người thầy hiệu trưởng (yêu nghề, yêu học trò đến khi nhắm mắt vẫn không yên) và một cô giáo (dám đương đầu với những thế lực, cửa quyền để bảo vệ đến cùng ngôi trường xiêu vẹo).

Bản thân mình chưa từng được biết về giáo dục một cách hay đến thế này, cho tới khi đọc được định nghĩa hết sức thú vị về nó của thầy Harfan, thầy nói rằng:

“Học không phải là phương tiện để thăng tiến, kiếm tiền hay làm giàu, thầy xem học tập là ca tụng nhân bản, là thanh cao, là niềm vui khi cắp sách đến trường và là ánh sáng văn minh.”

Và bản thân cho rằng, cách thầy Harfan định nghĩa đó, thật sự là hơi thở của Giáo Dục và linh hồn của một chốn được gọi là Trường Học. So với nền giáo dục hiện hành không còn giữ quan điểm về học tập như thầy, trường học ngày nay không còn là nơi để xây dựng nhân cách, mà là một phần của kế hoạch tư bản, nơi khoe khoang địa vị của chủ nghĩa thực dụng – kẻ thù số một đối lập. Một điều khá buồn.

Những nét của một bức tranh tả thực về giáo dục, khiến người ta trong mạch xúc động thương cảm, rồi lại phì cười bởi những tình huống đậm chất trẻ thơ, của những trò đùa tinh quái, là mối tình đầu cùng chứng bệnh tương tư của cậu bé Ikal lần đầu biết yêu, là những lần Mahar và Flo bị mê hoặc, tin vào Shaman giáo (thuyết đa thần), tin vào những chuyến phiêu lưu chết người theo tiếng gọi của ngài pháp sư bí ẩn trên đảo Hải Tặc, với lời thỉnh cầu xin điểm để giúp tụi nó khỏi bị đuổi học, và một cái kết không thể nào buồn cười và bất ngờ hơn từ ông thầy pháp sư ấy – người mà chúng nó tin sái cổ. Là không phải ai cũng như Samson, biết mình muốn gì ngay từ nhỏ và nỗ lực từng ngày. Là sự xúc động với hình ảnh người cha có dáng người cây thông chạy nhanh đến ủy ban xã để nhờ người giúp câu hỏi của đứa con trai:”Cha ơi, bốn nhân bốn bằng mấy cha?”, người cha ấy của cậu bé Lintang muốn bẻ gãy cái vòng lẩn quẩn – rằng đứa con trai cả, Lintang, sẽ không trở thành một ngư dân như cha nó – một cái vòng lẩn quẩn của đói nghèo.

Cứ tỉ tê, tỉ tê tự nhiên theo giọng kể chứa đầy cảm xúc của tác giả, khiến người đọc càng đọc càng thấy thương, rằng cuộc sống nghèo khổ cứ lại vây bám những con người đáng thương ấy, rằng bao giờ họ mới thoát ra khỏi cái nghịch lý đau lòng của cái giàu, cái nghèo, của quyền lực và cửa quyền đáng sợ.

Hình ảnh nối tiếp hình ảnh. Người thầy Harfan với tấm lòng bao la như trời biển trút hơi thở cuối cùng nơi mà thầy gắn bó và dành trọn tâm huyết cả đời ở đó – là trường học của mình, là khi cô giáo Mus với đàn học sinh đứng lên đấu tranh chống lại vua Thiếc. Để rồi hình ảnh cuối cùng đọng lại trong tâm trí người đọc là câu hỏi: “Ai là người tài giỏi đích thực? Lintang-người luôn đứng đầu lớp hay Kucai-luôn đứng bét?” – Ngỡ rằng hiện thực như một cú tát mạnh vào mặt!

Đó là 3 lời hứa của Lintang – cậu bé dù lốp xe đạp có mòn, dù hai lượt đi về 80km đối mặt với đầm lầy và cá sấu tấn công, vẫn chiến đấu tới cùng, luôn là người tới sớm nhất và về muộn nhất lớp, cứ ngỡ sau cơn mưa là cầu vồng xuất hiện, nhưng không, rồi cuối cùng, cũng chẳng thể nào thắng nổi nỗi lo miếng ăn của mười mấy con người mà nghỉ học. Quá thương và buồn, bất mãn khi nỗ lực được đi học, được thoát nghèo, được trở thành một nhà toán học của Lintang đã không thể thoát khỏi định mệnh của cái nghèo dai dẳng ấy. Thực tế cuộc sống ác nghiệt đến mức bóp tan tành và vùi dập giấc mơ của một đứa trẻ, để rồi lời hứa cuối cùng của Lintang khi nói với Ikal bạn mình rằng: “Buồn làm gì Ikal, ít nhất thì mình cũng đã giữ lời hứa với cha, là mình sẽ không làm nghề đánh cá.”

Chấp nhận là chấp nhận thế nào được?

Cho tới khi đọc xong cuốn sách này, bản thân mình vẫn thường tưởng tượng cảnh Lintang trở thành một nhà toán học, vì vẫn chưa chấp nhận được cái hiện thực tăm tối đó. Thấy thất vọng vì có quá nhiều đứa trẻ thông minh buộc phải bỏ học giữa chừng vì lí do tài chính, cười cho tất cả những kẻ ngu dốt mà cứ làm ra vẻ thông minh, ghét những đứa trẻ con nhà giàu không chịu học hành đàng hoàng.

Và còn rất nhiều những điều khác nữa. Và câu kết không thể ám ảnh hơn “Mọi công dân đều có quyền học hành” (Hiến pháp nước cộng hòa Indonesia, Điều 33) đã khép lại cuốn sách như một lời nhắc nhở nhân văn nhất.

Tựu chung, sau khi đọc xong cuốn sách, bản thân tự cảm thấy mình còn quá may mắn khi được đi học. Và hình ảnh 11 chiến binh với những tính cách khác nhau, vẫn sẽ đọng nguyên trong tâm trí, là cô bé Sahara cá tính, là A Kiong, là lớp trưởng Kucai – người duy nhất đạt được ước mơ của mình sau 12 năm, là Syahdan, là Mahar, Flo – cặp đôi luôn tin vào Shaman giáo, là Samson, là cậu bé Trapani với ước mơ trở thành thầy giáo, là Harun – một người lớn bị nhốt trong tâm trí của một đứa trẻ, luôn dành sự yêu thích với con số 3, là “nhà toán học” Lintang, được tác giả miêu tả 12 năm sau “là người mà giờ đây là một cư dân sống trong một cái lán dành cho culi, ngồi đợi đến ca làm nặng nhọc”; là Ikal – người đã vượt qua sức cám dỗ khôn cưỡng từ những đồng tiền còm kiếm được nhờ công việc culi toàn thời gian, để rồi 12 năm sau cậu cố gắng đạt được Học bổng Thạc sĩ tại một nước thuộc Liên minh châu Âu và rồi sau đó cậu chính là tác giả của cuốn sách “Chiến Binh Cầu Vồng”.

Thực sự đong đầy cảm xúc với những con người đã nỗ lực chiến đấu như những chiến binh thực sự và đẹp hệt như dải cầu vồng trên bầu trời sau cơn mưa!

Giá mà, tất cả những nhà giáo, những người làm giáo dục có thể đọc được cuốn sách phi thường này…

-10.01.2021-
Linh
Xem thêm:

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây