Carl Spitteler – bậc thầy của thơ trữ tình triết lí

0
714

Carl Spitteler (24/4/1845 – 29/12/1924) là nhà thơ, nhà văn Thụy Sĩ. Ông được trao giải Nobel Văn Học năm 1919 nhờ trường ca sử thi “Mùa xuân Olympia” – một kiệt tác của văn học viết bằng tiếng Đức. Đây là tác phẩm hàm chứa sự kết hợp phức tạp nhất của huyền thoại, tính hài hước, trí tưởng tượng, tôn giáo và phúng dụ. Trong sáng tác của C. Spitteler, huyền thoại là hình thức biểu hiện được khai thác triệt để, trong đó những nỗi đau khổ, niềm hi vọng và tuyệt vọng của con người được thể hiện ở mức tưởng tượng lí tưởng.

 Xem thêm: Karl Gjellerup, nhà văn người Đan Mạch sáng tác bằng tiếng Đức

Carl Spitteler
Carl Spitteler (24/4/1845 – 29/12/1924) là nhà thơ, nhà văn Thụy Sĩ. Ông được trao giải Nobel Văn Học năm 1919

Friedrich Georg Carl Spitteler (bút danh là Carl Felix Tandem) sinh ra trong một gia đình công chức cao cấp, từ nhỏ đã tỏ ra có năng khiếu hội họa và âm nhạc nhưng sau lại bắt đầu sáng tác thơ vì say mê các nhà thơ Phục Hưng. Năm 1863, ông theo học khoa Luật của Trường Đại học Tổng hợp Zurich. Năm 1865-1870, ông học tiếp khoa Thần học ở các trường Đại học Zurich, Heidelberg và Basel, nhưng rồi từ chối làm mục sư để có điều kiện hoạt động văn học. Năm 1871-1879, C. Spitteler làm thầy dạy con trai thứ của tướng Standertskjold ở Saint – Petersburg (Nga), sáng tác thiên trường ca sử thi Prometheus và Epimetheus (1881), rồi trở về Thụy Sĩ dùng tiền của mình để xuất bản tác phẩm này dưới bút danh Carl Felix Tandem. Nhưng sau khi ra đời, cuốn sách không được chú ý, C. Spitteler đành quay về nghề dạy học và viết báo, rồi cưới vợ là học trò của mình.

Carl Spitteler
Carl Spitteler trong một chuyến đi cùng vợ

Chỉ đến năm 1892, sau khi thừa hưởng khoản tài sản lớn của gia đình vợ, C. Spitteler mới chuyên tâm vào sáng tác. Các tác phẩm của ông pha trộn huyền thoại Kinh Thánh và thần thoại Hi Lạp với quan điểm hiện đại, chịu ảnh hưởng của Nietzsche và Schopenhauer. Năm 1887, Nietzsche đề cử C. Spitteler làm chủ bút tờ tạp chí Điểm văn của München. Sau 10 năm, C. Spitteler tái bản trường ca Prometheus và Epimetheus, kí tên thật của mình thì bị buộc tội là ăn cắp ý tưởng từ tiểu thuyết Zarathustra đã nói như thế của Nietzsche, mặc dù tác phẩm của C. Spitteler ra đời trước sách của Nietzsche. C. Spitteler buộc phải tự vệ trong tập sách Các quan hệ của tôi với Nietzsche. Tác phẩm tiêu biểu nhất của C. Spitteler là thiên sử thi Mùa xuân Olympia được viết và in rải rác từng phần trong các năm 1900-1906, sửa chữa in lại trọn bộ năm 1910, nói về cuộc đấu tranh giữa  thần linh và con người vì một hạnh phúc trong sáng. Chính tác phẩm này đã giúp ông đoạt Giải Nobel năm 1919. C. Spitteler được đánh giá là bậc thầy của thơ trữ tình triết lí. Ông sống ẩn dật, tránh mọi phát biểu về chính trị và tôn giáo, không đến dự lễ trao giải vì ốm yếu. Ông mất năm 79 tuổi. Romain Rolland đọc điếu văn, gọi ông là “Homer của chúng ta, nhà thơ viết tiếng Đức vĩ đại nhất kể từ thời Goethe”.

Đánh giá của Viện Hàn lâm Thụy Điển(1)

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển – Wikipedia tiếng Việt

Viện Hàn lâm Thụy Điển, dựa trên các qui chế của Quỹ Nobel, đã trao Giải Nobel Văn chương năm 1919, vốn đã không được trao vào năm ngoái, cho nhà thơ người Thụy Sĩ, Carl Spitteler, bởi thiên anh hùng ca của ông, Mùa xuân Olympia (Olympischer Frühling, 1906).

Về tác phẩm này, quả thật ta có thể nói rằng “ý nghĩa của nó chỉ trở nên nổi bật trong những năm gần đây” và Viện Hàn lâm Thụy Điển đã phải cẩn trọng cân nhắc tất cả những hoài nghi ngăn cản việc đánh giá đầy đủ tác phẩm, cho tới khi nào nhận thức được đầy đủ giá trị của nó – những giá trị không thể nhận ra ngay -, không chỉ như những nét trang trí cho hình thức thơ ca mà trên tất cả là cách diễn đạt nghệ thuật hài hòa của một thiên tài xuất chúng có sự độc lập và chủ nghĩa lí tưởng hiếm thấy.

Nói vậy hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta xuôi theo ý kiến rằng bài thơ này là thành quả một cuộc đấu tranh dai dẳng với bóng tối của tư tưởng chứ không phải là trái quả của một cảm hứng phóng túng và minh bạch. Khoảng cách giữa nghệ thuật của nhà thơ và ý kiến đánh giá của giới phê bình và độc giả, trong trường hợp này, không chỉ ra một thiếu sót nào đó của cả hai bên, mà đúng hơn, nó chứng minh rằng phải có một sự đánh giá cẩn trọng trên tinh thần phê phán thì ý nghĩa sâu sắc và phong phú của tác phẩm mới có thể hiển lộ trọn vẹn.

Mùa xuân Olympia của Spitteler chỉ trở nên phổ biến ở Thụy Sĩ và Đức khi bản cuối cùng được hiệu đính vào năm 1909. Nhưng hàng năm, đặc biệt là kể từ cuối cuộc chiến tranh, sự hâm mộ tác phẩm này đã tăng lên và lượng độc giả ngày càng lớn. Năm nay, số phát hành có thể lên tới vài nghìn bản. Đó là một số lượng đáng kể đối với một tác phẩm không hợp thời đại như bản anh hùng ca theo thể thơ dài 600 trang này về các vị thần trên đỉnh Olympia, tác phẩm mà đặc điểm về thể loại đòi hỏi độc giả phải đọc toàn bộ với sự tập trung cao độ. Tác giả, người đã cống hiến cả cuộc đời cho một công trình như vậy, đã tự cô lập mình một cách tàn nhẫn khỏi cuộc sống hiện đại và chẳng màng gì đến những đòi hỏi kiểu hiện đại về sự đền bù vật chất.

Ông đã không làm bất cứ điều gì để giảm nhẹ sự đối lập này. Ngược lại, ông cố tình chọn một chủ đề và cách tiếp cận mà chắc chắn sẽ làm hoang mang và thậm chí gây khó chịu cho nhiều độc giả với tính khí và sở thích khác nhau hoặc có nền tảng thẩm mĩ và trình độ học vấn khác nhau, khi họ cố gắng hiểu thế giới thơ ca mà ông bày ra trước mắt họ. Ngay từ đầu, ông đã đủ táo bạo để cuốn hút sự kiên nhẫn và sức chịu đựng của độc giả để theo ông đến cuối những con đường kì bí của ông, nó chỉ được soi sáng bằng đường dây hành động rõ ràng và liên tục, bằng những độc thoại và đối thoại đầy kịch tính giữa các nhân vật dù thể loại là anh hùng ca. Một người am hiểu văn học sẽ nhận ra những nét của Homer nhưng sẽ ngạc nhiên thấy mình bị dẫn dắt về phía một mục tiêu không biết và không bao giờ đoán trước được.

Nhưng ở phần cuối, quả là một sự đối lập hoàn toàn giữa Olympe của Homer và tính thần thoại mang phong cách riêng của Spitteler! Không gì có thể bất công hơn lời khiển trách rằng ông thích lôi cuốn các nhà ngữ văn và các tín đồ học thuật khác bằng những ám chỉ khó hiểu và biểu tượng uyên thâm vay mượn từ chuyên ngành của họ. Những vị thần Olympe và các anh hùng, những huyền thoại và sấm truyền của ông hiếm khi gợi cho ta về phong cách hay nhịp điệu của những triết gia, thi sĩ Hi Lạp thời xa xưa. Chúng không phải xuất sinh từ những khám phá mới nhất của ngành học thuật cổ điển, cũng chẳng hề được trích dẫn như bằng chứng về sự phụ thuộc của nhà thơ vào bất cứ kiểu diễn dịch mang tính ngụ ngôn nào. Cũng sai lầm không kém những ai nói bóng gió rằng tác phẩm của ông là hồi thứ ba của Faust. Spitteler không bắt chước bất kì ai, kể cả Goethe trong nỗ lực để điều hòa sự đam mê mang tính lãng mạn với sự mực thước cổ điển dưới mặt nạ của Faust và Helen. Tính thần thoại của Spitteler là một hình thức diễn đạt thuần túy cá nhân, nó nảy sinh một cách tự nhiên từ học vấn của ông và mang lại hình hài cho cõi hỗn mang những nhân vật giao tranh mà ông khắc họa nhằm thể hiện mức độ tưởng tượng lí tưởng, nỗi khổ đau, hi vọng và tuyệt vọng, những thăng trầm của số phận con người trong cuộc đấu tranh của ý chí tự do chống lại tất định nghiệt ngã. Tại sao ông lại phải quan tâm đến chuyện trong thời đại khai sáng thẩm mĩ hiện nay người ta khó có thể chấp nhận sự pha trộn dường như tuyệt vời giữa giấc mơ và thực tại, sử dụng có chủ ý những cái tên thần thoại?

Thậm chí dù cố gắng tóm lược một cách cẩn thận và toàn triệt diễn biến của Mùa xuân Olympia, tôi cũng không thể đưa ra một bức tranh rành rõ về sự phong phú của nội dung tác phẩm, sức sống tỏa sáng, sức mạnh gây rung động lòng người của các tình tiết thay đổi liên tục, cũng như mối liên kết nội tại chặt chẽ tất cả trong một tổng thể toàn bích. Chỉ cần nói rằng thời kì hưng thịnh của Olympe và của vũ trụ, vốn tự hiển lộ trong sự tự hài lòng và thử thách sức mạnh, kết thúc trong nỗi tuyệt vọng bất lực khi đối mặt với sự vô ơn, sa đọa, tội ác và khốn cùng của loài người. Heracles (tức Hercule, ND), người con trai trần thế của Zeus, được trang bị mọi điều kiện tốt nhất bởi người cha, họ hàng, bè bạn, nhưng đồng thời phải chịu đựng những lời nguyền và lòng căm thù của Hera, nữ hoàng của các thần, chàng đã phải rời đỉnh Olympe để hoàn thành nhiệm vụ bạc bẽo của lòng thương hại và can đảm trên trái đất.

Carl Spitteler
Carl Spitteler trong cuộc sống đời thường

Những người trên đỉnh Olympe, với việc làm và sự phiêu lưu, những đấu tranh thắng lợi và các cuộc tranh cãi giữa họ, trên thực tế là những siêu nhân mà nhà thơ chỉ đánh giá cao chừng nào họ còn có khả năng kiềm chế những ham muốn và dục vọng ngông cuồng của mình. Trên tất cả bọn họ có một qui luật phổ quát, không thể cưỡng được, hiển lộ dưới hình thức những thế lực u ám của số mệnh. Bên dưới họ và gần hơn với chúng ta là những lực tự nhiên vô hồn, cơ giới hóa, những lực mà các thần linh và con người cần lợi dụng vì lợi ích của chính họ và người khác, thế nhưng, bị lạm dụng bởi sự hiểm độc và lòng kiêu hãnh, lại dẫn họ đến điên rồ và hủy hoại. Bản hùng ca tràn ngập những khí cầu và những phát minh tân kì khác, những tòa nhà với những mái vòm và cổng uốn uy nghi bỏ xa phía sau sự giản dị của Homer. Nhưng âm mưu của những kẻ trơ tráo tìm mọi cách loại trừ Apollo khỏi quyền uy vô hạn của chàng bằng cách tạo ra một mặt trời nhân tạo và hành vi hợm hĩnh của họ tấn công chàng trong không trung bằng chiếc xe được thiết kế công phu và có khí độc cho ta thấy sự băng hoại đang đe dọa loài người một khi họ đẩy quá xa lòng tự tin dựa vào sức mạnh vật chất.

Spitteler miêu tả những trò đùa, những cuộc truy lùng và hành động kì lạ của các nhân vật anh hùng với sự hài hước bông đùa gợi nhớ tới Ariosto. Phong cách của ông sinh động với những âm điệu và màu sắc vô cùng đa dạng, từ trang trọng và thống thiết cho đến khắc họa chi li và sống động cảnh thiên nhiên, tất cả đều phản ánh quê hương trên dãy Alpes của ông hơn là vùng đất Hi Lạp. Những câu thơ sáu âm tiết có trọng âm theo vần luật Iambo, với những nhịp điệu trầm bổng đan xen mang theo dòng chảy ngôn từ điêu luyện của ông, mạnh mẽ và tráng lệ, không bao giờ vơi sức sống và đậm chất Thụy Sĩ không thể nhầm lẫn.

Viện Hàn lâm hài lòng khi thể hiện sự ngưỡng mộ trước phong cách rất riêng trong thơ Spitteler và quyết định trao phần thưởng vinh dự này cho ông. Do bị bệnh, ông không thể tham gia lễ trao giải này, do đó phần thưởng sẽ được chuyển tới ông qua Đại sứ quán của Thụy Sĩ.

Trong buổi tiệc, giáo sư Oscar Montelius đã giới thiệu Bộ trưởng ngoại giao Thụy Sĩ, Bá tước Count Wrangel lên nhận giải thay cho Carl Spitteler và nhờ ông chuyển tới nhà thơ lời thăm hỏi sức khỏe của Viện và hi vọng rằng ông sớm bình phục để có thể viết những tác phẩm khác cũng kiệt xuất như Mùa xuân Olympia.

Tác phẩm của Carl Spitteler

– Prometheus và Epimetheus (Prometheus und Epimetheus 1881), trường ca sử thi.

– Về cái siêu nhiên (Extramundana, 1883), trường ca.

– Những chú bướm (Schmetterlinge, 1889), thơ [Butterflies].

– Friedli bé nhỏ ở Kolderi (Friedli der Kolderi, 1891), tiểu thuyết.

– Gustav (1892), tiểu thuyết.

– Ngụ ngôn văn học (Litterarische Gleichnisse, 1892), thơ [Literary Parabless].

– Balladen (1896), thơ.

– Động Gotthard (Der Gotthard, 1897), sách hướng dẫn du lịch.

– Trung úy Conrad (Conrad der Leutnant, 1898), tiểu thuyết.

– Sự thật biết cười (Lachende Wahrheiten, 1898), tập phê bình [Laughing Truths].

– Mùa xuân Olympia (Der Olympischer Frühling [Olympian Spring], 1900-1906), trường ca sử thi, gồm 4 cuốn: Khúc dạo đầu (Die Auffahrt) [Overture], Cô dâu (Hera die Braut) [Hera the Bride], Thời đại cao cả (Die hohe Zeit) [High Tide], Sau cùng và đổi thay (Ende und Wende) [End and Change].

 – Những bài thánh ca (Glockenlieder, 1906), thơ [Bell Songs].

– Bướm (Imago, 1908), truyện vừa.

– Gerold và Hansli, người ghét đàn bà (Gerold und Hansli, die Mọdchenfeinde, 1907), truyện thiếu nhi.

– Các quan hệ của tôi với Nietzsche (Meine Beziehungen zu Nietzsche, 1908).

– Những trải nghiệm đầu tiên (Meine fruhesten Erlebnisse, 1914) [My Earliest Experiences].

– Prometheus, người đau khổ (Prometheus der Dulder, 1924), trường ca [Prometheus the Sufferer].

Trần Tiễn Cao Đăng và Tân Đôn dịch từ bản tiếng Anh
(Nguồn: http://nobelprize.org)

Ghi chú:

(1) Do Harald Hjọrne, Chủ tịch ủy ban giải Nobel, Viện Hàn lâm Thụy Điển đọc.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây